Mã số N2104: Ứng dụng kỹ thuật bơm PRF Lysate tự thân vào buồng tử cung trước chuyển phôi trữ cho người bệnh thất bại làm tổ nhiều lần tại Bệnh viện Hùng Vương
Thất bại làm tổ nhiều lần (RIF) là một trong những thách thức phức tạp nhất trong thực hành hỗ trợ sinh sản. Tỷ lệ RIF ước tính khoảng 8–15% số chu kỳ IVF/ICSI, và có tới 50% trường hợp không xác định được nguyên nhân rõ ràng. Hiện chưa có phác đồ điều trị chuẩn thống nhất cho RIF; phần lớn can thiệp đang áp dụng chỉ dựa trên bằng chứng mức độ thấp đến trung bình (ESHRE, 2023). Các phương pháp như estrogen liều cao, G-CSF hay tế bào gốc vẫn còn hạn chế về hiệu quả và khả năng ứng dụng lâm sàng rộng rãi.
Mỗi chu kỳ chuyển phôi thất bại kéo dài thời gian điều trị, làm tăng chi phí và gánh nặng tâm lý cho người bệnh và gia đình. Tại Khoa Hiếm muộn – Bệnh viện Hùng Vương, nhóm người bệnh RIF được can thiệp có thời gian mong con trung vị 48 tháng và đã trải qua trung vị 2 lần chuyển phôi thất bại.
Với mục tiêu lấy người bệnh làm trung tâm, Khoa Hiếm muộn áp dụng tiêu chuẩn RIF từ 2 lần chuyển phôi thất bại trở lên, thay vì chờ đủ 3 lần theo khuyến cáo ESHRE (2023), nhằm nhận diện sớm và triển khai kịp thời các can thiệp hỗ trợ nội mạc tử cung. Vấn đề đặt ra là cần một giải pháp hỗ trợ nội mạc tử cung có nguồn gốc tự thân, an toàn, dễ thực hiện và có dữ liệu kết cục thực tế để làm cơ sở tư vấn cho người bệnh.
Điều chế PRF Lysate (dịch ly giải fibrin giàu tiểu cầu) từ máu tự thân của chính người bệnh và bơm vào buồng tử cung trong giai đoạn chuẩn bị nội mạc tử cung trước chuyển phôi trữ, áp dụng cho người bệnh thất bại làm tổ nhiều lần có chỉ định, trong khuôn khổ nghiên cứu lâm sàng.
Nguyên lý
PRF Lysate là chế phẩm cô đặc tiểu cầu tự thân, được tạo ra từ quá trình ly giải PRF nhằm giải phóng các yếu tố tăng trưởng hòa tan vào pha dịch, gồm PDGF-AB, VEGF và TGF-β. Các yếu tố này tham gia vào quá trình tăng sinh tế bào, tân tạo mạch và tái tạo mô, được kỳ vọng hỗ trợ cải thiện khả năng tiếp nhận phôi của nội mạc tử cung.
Quy trình điều chế: lấy 10 mL máu ngoại vi vào ống thủy tinh không chứa chất chống đông, ly tâm trong vòng 2 phút sau khi lấy máu với lực ly tâm khoảng 200–400 g trong 15 phút (tùy loại máy và rotor). Lớp gel PRF ở giữa được tách khỏi phần hồng cầu, chuyển vào ống falcon vô khuẩn, ủ ở 37°C trong 24 giờ, sau đó ép khối gel để thu dung dịch PRF Lysate. Toàn bộ quy trình thực hiện trong điều kiện vô khuẩn.
Quy trình bơm: lần bơm đầu tiên thực hiện sau ít nhất 7 ngày sử dụng estradiol valerate theo phác đồ chuẩn bị nội mạc tử cung nhân tạo; dùng catheter bơm tinh trùng tiêu chuẩn, không cần gây tê, không sử dụng kháng sinh dự phòng; thể tích mỗi lần 0,3–1,0 mL (tối thiểu 0,3 mL); các lần bơm cách nhau 24–48 giờ, tối đa 3 lần/chu kỳ. Người bệnh được chuyển phôi trữ khi độ dày nội mạc tử cung đạt ≥ 8 mm trên siêu âm ngã âm đạo; nếu không đạt, chu kỳ được hủy và người bệnh được tư vấn phương án thay thế.

Sơ đồ chọn mẫu
Điểm mới
- Sử dụng chế phẩm tiểu cầu thế hệ mới: so với huyết tương giàu tiểu cầu (PRP), PRF Lysate không cần chất chống đông và không cần hoạt hóa ngoại sinh, giải phóng yếu tố tăng trưởng ổn định, kéo dài; đồng thời khắc phục nhược điểm dạng gel của PRF truyền thống nhờ ở dạng dung dịch, phù hợp để bơm vào buồng tử cung. Chế phẩm có nguồn gốc tự thân, không gây phản ứng miễn dịch.
- Kết nối nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu lâm sàng: giải pháp kế thừa kết quả đề tài tiền lâm sàng “Thu nhận và đánh giá hiệu quả của các chế phẩm cô đặc tiểu cầu lên sự tái tạo nội mạc tử cung chuột nhắt trắng” (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TP.HCM, 2024), trong đó PRF Lysate là chế phẩm phóng thích yếu tố tăng trưởng mạnh nhất và giúp tái tạo nội mạc trên mô hình chuột Asherman.
- Quy trình được mô tả với tiêu chí rõ ràng về thời điểm bơm, thể tích, số lần bơm và ngưỡng nội mạc tử cung để chuyển phôi; tiêu chuẩn RIF từ 2 lần chuyển phôi thất bại giúp can thiệp sớm hơn cho người bệnh.
- Kết cục được đánh giá một cách hệ thống đến trẻ sinh sống, kèm phân tích các yếu tố liên quan, tạo cơ sở dữ liệu ban đầu cho thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT).
Kết quả áp dụng và hiệu quả
Giải pháp được đánh giá qua đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Kết cục thai kỳ của bơm PRF Lysate vào buồng tử cung trong chuyển phôi trữ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Hùng Vương” (mã số CS/HV/25/40), thiết kế đoàn hệ hồi cứu một nhóm, thu nhận 127 chu kỳ chuyển phôi trữ có bơm PRF Lysate của 127 người bệnh RIF trong giai đoạn 12/2023–12/2025 (mỗi người bệnh chỉ nhận chu kỳ đầu tiên vào phân tích). Đề tài được nghiệm thu năm 2026.
Kỹ thuật được ứng dụng lâm sàng có giới hạn tại Khoa Hiếm muộn, trong khuôn khổ nghiên cứu, cho người bệnh RIF có chỉ định; chưa phải dịch vụ kỹ thuật chính thức của bệnh viện và chưa được triển khai rộng rãi. Kết quả nghiên cứu là tiền đề để thực hiện thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT).
Kết cục thai kỳ (n = 127 chu kỳ)
- Tỷ lệ thai sinh hóa 31,5% (KTC 95%: 23,71–40,42%); tỷ lệ thai lâm sàng 26,77% (KTC 95%: 19,49–35,49%); tỷ lệ thai diễn tiến 25,98% (KTC 95%: 18,8–34,65%).
- Tỷ lệ trẻ sinh sống 25,2% (KTC 95%: 18,11–33,82%).
- Không ghi nhận trường hợp thai ngoài tử cung; tỷ lệ sẩy thai dưới 12 tuần 3,94%, sẩy thai 12–20 tuần 0,79%; tỷ lệ sinh non 5,51%.
- Đối chiếu tham khảo với số liệu tổng hợp y văn trên người bệnh RIF không nhận can thiệp hỗ trợ của Yunan He và cộng sự (2024) (tỷ lệ thai diễn tiến 24,6%, trẻ sinh sống 23,0%), kết quả của nhóm nghiên cứu ở mức tương đương hoặc nhỉnh hơn. So sánh này chỉ mang giá trị tham khảo do khác biệt về quần thể và thiết kế nghiên cứu.

Kết cục thai kỳ theo chất lượng phôi ở chu kỳ chuyển phôi trữ có bơm PRF Lysate
Giá trị cho thực hành lâm sàng
Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy có ít nhất một phôi tốt/khá là yếu tố tiên lượng mạnh nhất, làm tăng khả năng đạt thai sinh hóa (ORhc = 6,903; p = 0,011), thai lâm sàng (ORhc = 6,462; p = 0,027), thai diễn tiến (ORhc = 6,482; p = 0,032) và trẻ sinh sống (ORhc = 6,352; p = 0,036). Vô sinh chưa rõ nguyên nhân (ORhc 0,112–0,154) và yếu tố nam (ORhc 0,187–0,235, với thai sinh hóa, thai lâm sàng, thai diễn tiến) làm giảm khả năng có thai (p < 0,05). Số lần bơm PRF Lysate, phác đồ hỗ trợ hoàng thể và số lượng phôi chuyển không cho thấy mối liên quan với kết cục thai kỳ (p > 0,05). Các kết quả này là cơ sở để xác định tiêu chí chọn người bệnh và các biến số cần kiểm soát trong thiết kế RCT.
Đánh giá và công bố kết quả
- Đề tài được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Bệnh viện Hùng Vương thông qua theo Quyết định số 9482/QĐ-BVHV ngày 25/12/2025.
- Đề tài được Hội đồng nghiệm thu đánh giá ngày 10/06/2026 (6/6 thành viên thông qua) và được công nhận kết quả theo Quyết định số 5017/QĐ-BVHV ngày 11/08/2026.
- Kết quả đã được báo cáo tại hội nghị khoa học của Bệnh viện Hùng Vương; bài báo đang được bình duyệt tại tạp chí International Journal of Fertility & Sterility.

Nhóm nghiên cứu trình bày tại báo cáo tại hội nghị khoa học của Bệnh viện Hùng Vương
ThS.BS. Huỳnh Phúc Khánh Minh - PGS.TS.BS. Hoàng Thị Diễm Tuyết - BS. Nguyễn Thị Vy Phương - BS CK1. Đào Viết Trung - KS. Nguyễn Phương Thy – HS. Trần Vân Anh Thư (Bệnh viện Hùng Vương)