Mã số N1012: Tổ hợp dịch vụ công cộng thông minh phục vụ chỉnh trang đô thị và giải pháp toàn diện, đồng bộ (kiến trúc, quản lý số, đào tạo nghiệp vụ) cho nhà vệ sinh trường học, bệnh viện, khu du lịch, chợ truyền thống…

  - Chia sẻ:    
Mô hình Green Public Service Station – GPS . trạm dịch vụ công cộng Xanh góp phần chỉnh trang đô thị. Hình thành một tổ hợp tiện ích đô thị văn minh, sạch, đẹp thống nhất. Giải pháp toàn diện, đồng bộ (kiến trúc, quản lý số, đào tạo nghiệp vụ) cho nhà vệ sinh trường học, bệnh viện, khu du lịch, chợ truyền thống…

1. Cơ sở pháp lý cho nội dung dự thi

-Tiêu chuẩn thiết kế quốc gia TCVN 13982:2024 (Nhà vệ sinh công cộng trong đô thị): Quy định NVSCC cố định phải đáp ứng chỉ tiêu diện tích xây dựng tối thiểu 10 m² cho 1.000 người sử dụng (tính theo lượng khách vãng lai tối đa tại khu vực trong một ngày đêm). Trong đó, bắt buộc phải có tối thiểu 1 buồng vệ sinh đạt kích thước tiêu chuẩn cho người khuyết tật tiếp cận. 

-Cơ chế đặc thù từ Luật Phát triển đô thị: Luật mới cho phép các đô thị lớn như TP.HCM, Hà Nội được quyền quyết định xây dựng công trình tạm thời (như NVSCC thông minh) trên đất công, công viên, hành lang bảo trì đường bộ mà không cần phải chờ điều chỉnh quy hoạch phân khu, nhằm giải quyết nhanh tình trạng thiếu nhà vệ sinh khu trung tâm.

-Tích hợp NVSCC vào Nhà chờ xe buýt: Các văn bản hướng dẫn Luật Phát triển đô thị phối hợp với Luật Đường bộ quy định: Tại các điểm dừng, nhà chờ xe buýt lớn hoặc các điểm trung chuyển, bến bãi hành khách, nếu có đủ diện tích đất và bảo đảm an toàn giao thông, vệ sinh môi trường thì được phép bố trí tích hợp nhà vệ sinh công cộng

2- Hiện trạng:

    2.1 Về dich vụ VSCC và các dịch vụ tiện ich đô thị khác trên hè phố

     Hè phố của Thành phố đang chứa nhiều tiện ích đặt riêng lẻ: trạm xe buýt, trụ sạc xe điện, xe đẩy bán hàng. Ở nhiều đoạn phố không có nhà vệ sinh công cộng. Mỗi tiện ích do một đơn vị quản lý và được đặt vào một thời điểm khác nhau, nên không ai thiết kế chung cho cả đoạn phố. Một bức tranh khá lộn xộn

      2.2 Một vài số liệu dẫn chứng:

    Về số lượng NVSCC. Theo Sở Tài nguyên và Môi trường nêu trong đề án trên, Thành phố có khoảng 2.165 nhà vệ sinh công cộng. Trong đó 283 nhà đặt tại khu vực công cộng như bến xe, bến thủy, nhà ga, vỉa hè; 1.882 là cơ sở kinh doanh, dịch vụ đồng ý cho người dân vào dùng. Nhà vệ sinh của cơ sở kinh doanh chỉ mở theo giờ và theo quyết định của chủ cơ sở, nên người đi đường vẫn khó tìm một chỗ dùng được khi cần. Báo chí cũng ghi nhận các trục đường lớn dài hàng chục ki-lô-mét không có nhà vệ sinh công cộng: đại lộ Phạm Văn Đồng dài gần 14 km, xa lộ Hà Nội khoảng 15 km .

   Về chất lượng NVSCC. Cũng theo Sở TNMT, nhiều nhà vệ sinh được xây từ lâu, mẫu mã lạc hậu, chưa đạt tiêu chuẩn và chưa hài hòa với cảnh quan đô thị. Một số nhà xuống cấp nặng, thiết bị hư hỏng hoặc bị mất cắp.

    Về dư luận. Ngày 29/07/2026, báo Tuổi Trẻ đăng ý kiến bạn đọc về tình trạng tiểu tiện bừa bãi tiếp tục gây bức xúc ở nhiều khu vực của Thành phố, trong đó có người dân sống ven đường cao tốc không có trạm dừng nghỉ phải chịu mùi hôi. Một người xe ôm bị phạt ở trung tâm Thành phố nói với báo VnExpress rằng nộp phạt thì làm được, còn nhịn thì khó. Năm 2023, Bí thư Thành ủy yêu cầu các địa phương có chuyển biến mạnh về nhà vệ sinh công cộng và nói cư dân Thành phố không chấp nhận tình trạng thiếu, kém vệ sinh. 

      Về vỉa hè. Từ ngày 16/01/2026, lực lượng chức năng mở đợt cao điểm xử lý lấn chiếm lòng đường, vỉa hè. Thành phố ngừng cấp phép mới cho kinh doanh trên vỉa hè (báo Tuổi Trẻ, 19/01/2026) và đang nghiên cứu quy hoạch chợ đêm, phố đi bộ, khu kinh doanh tập trung cho người bán hàng rong (báo Đại biểu Nhân dân, 09/05/2026). Về trụ sạc, Sở Xây dựng, trong văn bản số 11024/SXD-BTKT, đề nghị đơn vị lắp đặt gắn trụ sạc lên các trụ chiếu sáng sẵn có để hạn chế chiếm vỉa hè. Nguyên tắc đó cũng là nguyên tắc của đề xuất này: gom lại, không đặt thêm.

    Về nhà chờ xe buýt: Khoảng 1.030 nhà chờ. Gần 4.000 trụ dừng chờ xe buýt

     Về trạm sạc xe điện: Theo số liệu thống kê mới nhất đến tháng 8/2026, Thành phố Hồ Chí Minh đã công bố gần 5.000 vị trí lắp đặt tủ đổi pin và đã triển khai thực tế được khoảng 1.500 vị trí gắn tủ trên vỉa hè.

    GEETVN đề xuất gom các tiện ích này vào một cụm có tổ chức, trong đó có nhà vệ sinh miễn phí cho người dùng, theo một thiết kế kiến trúc thống nhất, do một đầu mối vận hành và không dùng vốn ngân sách để đầu tư. Công ty xin thí điểm tại một số vị trí trước khi đề nghị mở rộng.  (phụ lục 

Đề xuất nối tiếp hai việc đã có: chủ trương xã hội hóa nhà vệ sinh công cộng kèm kiosk, được Thành phố chấp thuận thí điểm từ tháng 4/2023; và Đề án cải thiện số lượng và chất lượng nhà vệ sinh công cộng giai đoạn 2024–2025 của UBND Thành phố. 

3. Kinh nghiệm các nước trong khu vực:

    Việc tích hợp các dịch vụ tiện ích công cộng (hành chính, y tế, văn hóa, không gian xanh, giao thông, thương mại) trong một không gian chung là xu hướng tất yếu của quản trị đô thị hiện đại. Dưới đây là kinh nghiệm tiêu biểu từ một số quốc gia trên thế giới: 

    3.1. Malaysia – Mô hình Trung tâm Chuyển đổi Đô thị (UTC)

  • Mô hình tích hợp: Malaysia triển khai các Trung tâm Chuyển đổi Đô thị (UTC) bằng cách tận dụng, cải tạo công năng các tòa nhà có sẵn ít được khai thác hiệu quả (như bến xe buýt cũ, trung tâm thương mại).
  • Nội dung tích hợp: Một UTC tập trung rất nhiều dịch vụ dưới một mái nhà: các cơ quan hành chính nhà nước (làm hộ chiếu, căn cước, nộp thuế), phòng khám chăm sóc sức khỏe cộng đồng, quầy ngân hàng, khu vực ẩm thực và tiện ích cho thanh thiếu niên. 
  • Bài học kinh nghiệm: Đặt người dân làm trung tâm, giảm tối đa thời gian và chi phí đi lại; thay vì xây mới tốn kém, việc cải tạo hạ tầng sẵn có giúp tối ưu hóa không gian công cộng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

       3.2. Singapore – Mô hình không gian tích hợp và đa tầng (Hubs & Underground Integration)

  • Mô hình tích hợp: Singapore phát triển các trung tâm cộng đồng (Community Hubs) và các tổ hợp đô thị kết hợp chặt chẽ giữa nhà ga giao thông công cộng (MRT), trung tâm thương mại, phòng khám, thư viện quốc gia và không gian cây xanh.
  • Nội dung tích hợp: Ví dụ điển hình là việc kết hợp không gian ngầm, không gian thương mại và mặt đất (như khu vực Marina Bay hoặc các Hub dân cư) giúp người dân vừa có thể di chuyển, vừa giải quyết thủ tục hành chính, vừa tiếp cận tiện ích văn hóa - thể thao chỉ trong vài phút đi bộ.
  • Bài học kinh nghiệm: Quy hoạch tổng thể dài hạn, kết nối không gian đa chiều (trên mặt đất, trên cao và không gian ngầm), gắn kết chặt chẽ với hệ thống giao thông công cộng khối lượng lớn (TOD - Transit-Oriented Development).

     3.3. Thái Lan (Bangkok) – Mô hình tổ hợp đa năng thế hệ mới (One Bangkok, Dusit Central Park)

  • Mô hình tích hợp: Các dự án đô thị lớn tại Bangkok kết hợp nhịp nhàng giữa văn phòng hạng A, khách sạn, căn hộ, khu bán lẻ và không gian công cộng mở rộng (như các khu vườn trên mái rộng lớn, quảng trường đi bộ).
  • Nội dung tích hợp: Không gian chung không chỉ phục vụ cư dân hay khách thuê văn phòng mà mở cửa đón công chúng, trở thành điểm sinh hoạt cộng đồng, nơi tổ chức các sự kiện văn hóa và thu hút khách du lịch. 
  • Bài học kinh nghiệm: Huy động nguồn lực và sự tham gia mạnh mẽ từ khu vực tư nhân thông qua cơ chế hợp tác công - tư (PPP), biến không gian công cộng thành "nam châm" thu hút cộng đồng thay vì chỉ là các tòa nhà hành chính đơn điệu. 

Các bài học cốt lõi cho Việt Nam

 

  • Tư duy "Nhà nước kiến tạo": Chuyển từ việc phân tán các dịch vụ công sang gom đầu mối tại các điểm đến thuận lợi nhất cho người dân.
  • Tối ưu hóa tài sản công: Cải tạo, chuyển đổi công năng các công trình dôi dư hoặc sử dụng kém hiệu quả thay vì ồ ạt xây mới.
  • Gắn kết công - tư (PPP) và Công nghệ số: Khuyến khích tư nhân đầu tư vào hạ tầng tiện ích chung đi đôi với ứng dụng dịch vụ một cửa điện tử, dữ liệu số dùng chung

Các mô hình khác nhau về nguồn vốn. Điểm chung trong các ví dụ trên là nhà vệ sinh trên phố có thiết kế được cân nhắc và có một đơn vị chịu trách nhiệm vận hành.

 

4. Mức độ mới, sáng tạo của công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, quy trình hoặc mô hình kinh doanh

  • Mức độ sáng tạo về kiến trúc & mô hình GPS:

Không chỉ là nhà vệ sinh đơn lẻ, đây là Tổ hợp đa năng gồm: Buồng vệ sinh thông minh theo chuẩn APTS – ASEAN Public Toilet Standard không chạm, tự động xả nước, khử khuẩn bằng enzyme, hệ thống thông gió và cảm biến mùi, kết hợp với ki-ốt dịch vụ/tiện ích (bán hàng F&B mang đi, điểm cung cấp thông tin du lịch, (Bản quyền tác giả số: 10887/2025/QTG ký ngày 10-12-2025)(PL3)

Xử lý thải bằng hai công nghệ:

  • Công nghệ HASB – Horizoneflow Anaerobic Sludge Blanket (bể xử lý sinh học kỵ khí dòng chảy ngang qua tầng chứa vi sinh (eco clean septic) do chúng tôi cải tiến từ công nghệ  UASB Upflow Anaerobic Sludge Blanket (bể xử lý sinh học kỵ khí dòng chảy ngược qua tầng chứa vi sinh), công nghệ này đang được sử dụng xử lý Kênh Nhiêu Lộc.

      ( Bản quyền tác giả số 4682/2025/QTG ký ngày 10-6-2025) (PL4)

  • Công nghệ xử lý điện hóa. Chất thải rắn được xay nhuyển với 7 lit nước, được bơm qua bình điện phân xung điện sau đó được trộn với dung dịch ion canxi trước khi đực đẩy ra ngoài. (Bản quyền tác giả số 9647/2025/QTG ký ngày 7-11-2025) (PL5)
  • Ứng dụng công nghệ số và IoT:

 Hệ thống quản lý từ xa (IoT Platform)

Ý nghĩa: Là một nền tảng phần mềm trung gian kết nối tất cả các thiết bị ngoài thực tế (gắn cảm biến) lên hệ thống máy chủ qua mạng internet. Đây là mô hình chuyển đổi số áp dụng vào chuỗi nhà vệ sinh công cộng. Hay nói khác đi là chuyển từ quản lý thủ công sang hình thức quản lý theo dữ liệu ( dữ liệu khách quan và dữ liệu chủ quan)

    Dữ liệu khách quan:

Cảm biến tại chỗ: Nhà vệ sinh công cộng được gắn cảm biến để đo lường liên tục: đếm lưu lượng người ra vào, cảm biến nhiệt độ, độ ẩm, càm biên mùi khai NH3, cafmrbieesn mùi hôi H2S, cảm biến đo lượng nước sử dụng…

Truyền dữ liệu thời gian thực: Dữ liệu được gửi ngay lập tức về trung tâm điều hành. Thực ra việc truyền dữ liệu theo dạng gửi các gói tin cách nhau một khoảng thời gian ngăn 5 giây một lần gọi là giao thức truyền tải/nhắn tin (phổ biến nhất là MQTT – Message Queuing Telemetry Transport hoặc CoAP). Vì khoảng cách thời gian chỉ 5 giây, môi trường gần như thay đổi rất ít nên đươc xem như tức thời.

     Dữ liệu chủ quan:

Chúng tôi bố trí màn hình chạm (touch screen) kết nối internet lập trinh thành check list và Vote điện tử, thu thập dữ liệu chủ quan của nhân viên lau chùi vệ sinh đánh dấu (check) vào các nội dung đã làm sạch và người giám sát xác nhận một cách online. Bên cạnh đó là sự bình chọn (vote) trưc tuyến của người sử dụng dịch vụ.

Lợi ích: Nhân viên quản lý không cần đi kiểm tra thủ công từng nơi; khi có sự cố (như rò rỉ nước, hết giấy, rác đầy), hệ thống sẽ phát cảnh báo tự động để điều phối người đến xử lý kịp thời.  (PL6 hình ảnh minh họa hệ thống IOT)

     Tích hợp bản đồ số

Ý nghĩa: Đưa dữ liệu trạng thái của các thiết bị/trạm dịch vụ lên các nền tảng bản đồ trực tuyến để người dùng cuối (người dân, khách du lịch) dễ dàng nhìn thấy. 

Cách thức hoạt động:

Đồng bộ vị trí: Tọa độ và trạng thái của từng điểm (trống, đang bận, sạch hay bẩn, cần bảo trì) được kết nối lên Google Maps hoặc các ứng dụng du lịch chuyên biệt của thành phố như Vibrant Ho Chi Minh City.

Trải nghiệm của người dùng: Người dân hoặc du khách chỉ cần mở điện thoại là biết ngay nhà vệ sinh/điểm công cộng gần nhất đang ở đâu, trạng thái hiện tại thế nào (ví dụ: đang sạch sẽ hay đang cần dọn dẹp) để chủ động lựa chọn.

Công nghệ IOT này chúng tôi liên kết cùng Trung tâm IOT Vision của Đại học Kỹ thuật công nghiệp TP HCM (ĐH Sư phạm kỹ thuật Thủ Đức) và khoa máy tinh ĐH Bách Khoa TP.HCM thực hiện trong giai đoạn thí điểm.

  • Giải pháp đồng bộ 3 chân kiềng: Nét mới riêng của GEETVN tính toàn diện và đồng bộ.
    • Kiến trúc mô-đun lắp ghép nhanh (tiết kiệm quỹ đất, dễ bài trí ở bệnh viện, trường học, chợ truyền thống, khu du lịch).  Như nói bên trên.
    • Quản lý số (vận hành tự động + giám sát qua app). Như nói bên trên.
    • Đào tạo nghiệp vụ chuẩn hóa nhân viên phục vụ lau chùi vệ sinh. 

     Năm 2023 chúng tôi trong đoàn khào sát của Sở Du Lịch TP.HCM tiến hành khảo sát nhà vệ sinh công cộng của 52 cơ sở du lich trọng điểm. Kết quả hơn 95% nhân viên phục vụ lau chùi vệ sinh của các cơ sở du lịch nói trên đều không qua đào tạo nghiệp vụ. Ở các nước tiên tiến những nghề có ảnh hưởng đến sức khỏe con người như làm nail, hớt tóc, massage,.. đều phải qua đào tạo nghiệp vụ và phải có chứng chỉ hành nghề. Thế nhưng nghề lau chùi nhà vệ sinh có ảnh hưởng đến sức khỏe không chỉ một người mà tới hàng ngàn người lại thực tế chưa qua đào tạo nghiệp vụ. Trình độ học vấn của những nhân viên phục vụ lau chùi vệ sinh đa phần không cao. Phương pháp đào tạo chủ yếu là nghe nhìn và thực hành cầm tay chỉ việc.

GEETVN đã có nguồn 15 phim ngắn 5-10 phút/ một phim hướng dẫn qui trình làm sạch nhà vệ sinh. Tập tài liệu in hình ảnh hướng dẫn kỹ thuật. Cùng với trường Cao Đẳng Văn Lang biên soạn nội dung chương trình đào tạo xin cấp mã ngành đào tạo ngắn hạn, làm cơ sở cấp chứng chỉ đào tạo cho học viên. ( Phụ lục 7 trich dẫn một đoạn phim.)

  • Lợi thế khác biệt & Sở hữu trí tuệ (IP):

   Để có cơ sở phát triển bền vững, GEETVN đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ trong lãnh vực môi trường. Thể hiện ở :

5. Hiệu quả kinh tế; kết quả thị trường; khả năng tăng trưởng và huy động nguồn lực

Phần tham khảo quá trình 2024 :          1.126.372.600 đ

- Chỉnh trang cổng, khuôn viên, mô hình đầu máy xe lửa, lắp dặt cabin vệ sinh công cộng tự động : 386.2229.000 đ + 222.640.000 đ  = 611.869.000 đ

- Cải tạo nâng cấp nhà vệ sinh công cộng khu di tích lịch sử lăng Tả quân Lê Văn Duyệt : 214,503.600 đ

- Công viên Âu Lạc quận 5 : 300.000.000 đ

Phần doanh thu từ  1-1-2025 đến nay:       3.148.398.000 đ  ( tăng 279,5% ) 

  • Lắp đặt 3 cabin vệ sinh công cộng tự động cho Đà Nẵng: 509.638.000đ
  • Thi công lắp đặt 2 tổ hợp GPS (cabin vệ sinh công cộng + kisosk dịch vụ đa năng cho TP Sầm Nưa, tỉnh Huaphan, Lào. :  500.000.000 đ
  • Sản xuất lắp đặt cho RICHS  2GPS :                         518.400.000 đ
  • Sản xuất lắp đặt cho RICHS  2 cabin VSCC :         234.360.000 đ
  • Sản xuất lắp đặt cho RICHS  5GPS :                      1.386.000.000đ
  • Thầy Phan Đình Thế Duy, Khoa máy tính, chuyen gia IOT
  • Ông Du Quốc Tiên, Quản lý tài chính, tiến độ dự án bằn phần mềm MISA
  • Ông Trần Quốc Viêt, quản lý truyền thông khai thác nguồn vốn đầu tư
  • Ông Mai Đình Toàn, phản biện công nghệ
  • Ông Mai Hữu Tín, giám đốc quan hệ phát triển dự án
  • Ông Lưu Việt Dũng Giám đốc điêu hành kiêm tư vấn luật
  • Ông Trang Văn Hoàng cố vấn kiến trúc xây dựng
  • Ông Nguyễn Xuân Sáng giám đôc chiến lược.

 

6- Những dự án đang xúc tiến:

     6.1 Dự án nhà vệ sinh thông minh cho trường học: 

Đề xuất gồm ba giải pháp đồng bộ:

-  Cải tạo nâng cấp nhà vệ sinh hiện hữu  theo chuẩn APTS.

- Số hóa việc quản lý nhà vệ sinh bằng công nghệ IOT dữ liệu khách quan : độ ẩm, nhiệt độ, mùi khai NH3, mùi hôi H2S, lượng nước sử dụng, lượt người sử dụng; dữ liệu chủ quann từ nhân viên lau chùi vệ sinh, giám sát viên và học sinh.

- Đào tạo ngắn hạn cho tất cả nhân viên lau chùi làm sạch nhà vệ sinh.

    Dự án này được UBND TP ra thông báo 16078/VP-VX ngày 26-6-2026 giao Sở GD ĐT chủ trì, các sở KHCN, Tái chính, Y tế  tổng hợp tham mưu cho UBND về dự án trên.  (PL 8 )

     6.2 Dự án nhà vệ sinh thông minh cho khu du lịch tỉnh An Giang

 Cũng bao gồm ba giải pháp đồng bộ nói trên. Sở Du lịch tổ chức buổi trình bày với sở Tài chính và 9 khu điểm du lịch trong tỉnh và ngày 12-10-2026 UBND Tinh ra văn bản số: 21050/VP-KGVX chỉ đạo Sở Du Lịch thực hiện theo tinh thần xã hội hóa 100% và cân đối ngân sách tự có của các Khu điểm du lịch. (PL 9)

    6.3 Dự án đề xuất tích hợp các tiện ich đô thị trong một không gian chung:

Hè phố của Thành phố đang chứa nhiều tiện ích đặt riêng lẻ: trạm xe buýt, trụ sạc xe điện, xe đẩy bán hàng. Ở nhiều đoạn phố không có nhà vệ sinh công cộng. Mỗi tiện ích do một đơn vị quản lý và được đặt vào một thời điểm khác nhau, nên  không ai thiết kế chung cho cả đoạn phố.

   GEETVN đề xuất gom các tiện ích này vào một cụm có tổ chức, trong đó có nhà vệ sinh miễn phí cho người dùng, theo một thiết kế kiến trúc thống nhất, do một đầu mối vận hành và không dùng vốn ngân sách để đầu tư. Công ty xin thí điểm tại một số vị trí trước khi đề nghị mở rộng.   (

     6.4 Dự án xử lý tại chỗ bùn nạo vét kênh rạch,rác xây dựng (xà bần) do giải tỏa nhà mở rộng đường, giải tỏa nhà ở ven kênh rạch. Sử dụng công nghệ chất kết dính do Giáo sư Vương Giai Thủy , công ty TNHH môi trường Thạch Thập Băc Kinh. Sản phẩm là bê tông không dùng cát, xi măng, rất ít nước để làm đường giao thông dân sinh, các khối bê tông chắn song, gia cố bờ kênh rạch, tấm vách xây dựng   (PL 11 hình minh họa)

7. Tác động xã hội, môi trường và đóng góp đối với phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM

  • Tác động xã hội:
    • Giải quyết dứt điểm "nỗi buồn" cấp bách cho hơn 13 triệu người dân và lượng lớn khách du lịch quốc tế/nội địa khi đến TP.HCM.
    • Tạo môi trường văn minh cho lực lượng lao động phi chính thức (shipper, tài xế xe ôm công nghệ, lao động đường phố) có nơi vệ sinh và dừng chân đàng hoàng.
    • Nâng cao chất lượng cuộc sống, chỉ số hạnh phúc của người dân đô thị.
  • Tác động môi trường:
    • Sử dụng thiết bị tiết kiệm nước, điện năng lượng mặt trời, hệ thống xử lý chất thải khép kín không gây ô nhiễm thứ cấp ra môi trường xung quanh.
    • Góp phần làm sạch vỉa hè, giảm thiểu tình trạng phóng uế bừa bãi nơi công cộng.
  • Đóng góp vào năng suất & việc làm:
    • Tạo ra việc làm mới được đào tạo bài bản (nhân viên vận hành, giám sát chất lượng số, nhân viên ki-ốt) theo tiêu chuẩn chuyên nghiệp.

8. Năng lực thực hiện, tính bền vững, quản trị rủi ro và khả năng tiếp tục phát triển

  • Năng lực đội ngũ sáng lập & thực hiện, PMO cho dự án:
  • Tính bền vững và Quản trị rủi ro:
    • Rủi ro về phá hoại, ý thức cộng đồng: Lắp đặt camera AI giám sát an ninh 24/7, cửa khóa thông minh bằng mã QR/ứng dụng hoặc nhận diện, kết hợp chế tài/tuyên truyền tại chỗ.
    • Rủi ro vận hành, tắc nghẽn, hỏng hóc: Cảm biến IoT tự động báo lỗi về hệ thống kỹ thuật để cử đội bảo trì lưu động xử lý trong vòng 2 - 4 giờ.
    • Rủi ro pháp lý về vị trí đặt trên vỉa hè: Phối hợp chặt chẽ với Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, UBND các quận (như Quận 1, Quận 5, TP. Thủ Đức...) để xin thỏa thuận vị trí và quy hoạch điểm đặt phù hợp.
  • Lộ trình phát triển giai đoạn 2026 - 2030:
    • Giai đoạn 1 (2026): Hoàn thiện nguyên mẫu (Prototype), xin cấp phép thử nghiệm tại 5 - 10 điểm trọng điểm tại TP.HCM 
    • Giai đoạn 2 (2027 - 2028): Đánh giá hiệu quả, tối ưu hóa công nghệ IoT và mở rộng lên 50 - 100 điểm.
    • Giai đoạn 3 (2029 - 2030): Nhân rộng mô hình sang các đô thị lớn khác như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ … nâng mô hình lên 1000 điểm.

Thông tin

  • Tác giả: Công ty cổ phần Công nghệ môi trường năng lượng Xanh Việt Nam (GEETVN)